Vui mừng chào đón

3 khách và 0 thành viên

Lịch vạn niên

Tài nguyên Website

Điểm báo Online

Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf Videoplayback_.flv 31VVQ.flv P1090425.jpg SAM_1032.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf Cac_thanh_vien_than_thiet.flv Cac_thanh_vien_than_quen.flv Hoahong31.jpg Chuc_xuan.swf Chao_20144swf.swf 111.jpg Chuc_2011.png DHTRUONG.swf QB_loan_cung_dan_mua_xuan.swf SN_Huu_Truong2.swf Chao_nam_hoc_moi.swf Bong_hong_cai_ao_1.swf

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • (Đinh Hữu Trường)

    Chào mừng quý vị đến với TƯ LIỆU & CUỘC SỐNG - Đinh Hữu Trường.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bác Hồ kính yêu > Truyện dài kì >

    BÚP SEN XANH - Tiểu thuyết _ Sơn Tùng - PhầnI:Thờithơấu. 3)

    Lời của cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng: Chúng ta có một khẩu hiệu rất đúng, rất hay : " Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta". Đúng như vậy, Hồ Chủ Tịch sống mãi trong những tư tưởng và tình cảm lớn, trong toàn bộ hoạt động cách mạng của nhân dân Việt Nam ta, của mọi người chúng ta. Đồng thời Hồ Chủ Tịch cũng sống mãi trong những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị diễn tả một cuộc đời đã trở thành lịch sử, những trang sử đẹp nhất và vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam ta.

    hoa_sen

     I - THỜI THƠ ẤU (tiếp theo)

    3. Không còn ai nhớ được người đầu tiên của dònghọ Nguyễn Sinh đến làng Sen khai cơ lập nghiệp. Người ta chỉ còn nhớ rằng, từ buỏi làng Sen còn là trang trại đã có người họ Nguyễn sinh sống. Hồi bấy giờ còn gọi là Trại Sen, vì có nghiều đầm sen rộng bát ngát. Sen nhiều đến nỗi có những tên : Đồng Sen, Cồn Sen, Đầm Sen, Giếng Sen ...

            Do có nhiều sen, cảnh trí trong làng, ngoài đồng lại đẹp nên Trại Sen đổi tên thành làng Mỹ Liên. Về sau các cụ lại đổi tên thành Kim Liên.

            Nhất vui là cảnh Kim Liên

            Cảnh tiên có cảnh, người tiên có người.

            Cái thuở ấy, làng Sen gồm có năm phường: phường Giữa (xóm Đông lĩnh), phường Phú Đầm (xóm Nam Lĩnh), phường Cơn Trôi (xóm Tây Lĩnh), phường Thượng (Xóm Thượng thọ), phường Ngoài (xóm Trung ca, vì dân xóm này hát xướng giỏi, có người hát nhà trò).

             Lúc về ở trại Sen, họ Nguyễn Chưa đệm chữ Sinh. Qua gia phả của một nhánh họ thì : "Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ. Tiếp đến đời Nguyễn Bá Bạc, đời Nguyễn Bá Ban, đời Nguyễn Văn Dân. Bốn vị tổ này không ghi rõ sinh về thời nào. Đến đời ông Nguyễn Vật, bắt đầu lót đệm chữ "Sinh", ông là giám sinh, triều Lê Thánh Đức, năm thứ ba. Kế đến, ông tổ đời thứ sáulà Nguyễn Sinh Trí mới mười bảy tuổi đã đậu hiếu sinh. Đến năm ba tư tuổi, ông đậu ta trường khoa thi Hội".

             Họ Nguyến Sinh giàu và có khoa cử đời ông tổ thứ năm, thứ sáu. Đến đời thứ mười là Nguyên Sinh Nhậm vẫ ở lại phường Phú Đầm, mọt phường nhiều đầm sen nhất Trại Sen. Ông Nguyễn Sinh Nhậm vào bậc trung lưu của làng Sen. Ông lập gia đình sớm nhưng hiếm con, khi sinh hạ được một người con trai tên là Nguyễn Sinh Trợ, tên chữ là Thuyết thì bà nhậm chết. ông nhậm ở vậy nuôi con cho đến khi tuổi thành niên và lập gia đình riêng cho con trai rồi mới lấy vợ kế. Ông cưới bà Hà Thị Hy, một cô gái có tài hoa, nhan sắc bị quá lứa ở làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tông Lâm Thịnh với làng Sen.

            Hà Thị Hy con gái một nghệ nhân giỏi tiếng về ngón đàn đáy, đần bầu. Nhà giàu có, thuộc loại nhiều ruộng nhất làng Sài. Ông ham học chữ "thánh hiền", nhưng không màng chuyện thị cử trong nhà luôn luôn nuôi thầy dạy học. Năm ông đã hai thứ tóc còn nuôi cử nhân Hồ Sỹ Tạo dạy cho các con các cháu và ông học thêm. Ông còn nhóm lên trong nhà mình một"phường hát ả đào". "Phường hát ả đào" của ông chỉ để làm vui trong gia đình, trong họ nhà mình và những bà con có đám cưới, đám ăn mừng thượng thọ.

            Hy được cha yêu quý, truyền cho tất cả vốn hiểu biết về đàn, phách và ca trù. Cô lại còn có biệt tài về múa đèn. Khuôn mặt "trăng rằm", lông mày cong vành bán nguyệt, mắt lá đào, mũi thon dài, môi cắn chỉ, cổ ba ngấn, lưng ong, cô dang thẳng hai cánh tay hình hình chữ thập, trên đôi cánh tay ấy đặt mỗi bên ba đĩa đèn, và trên đầu cũng đội ba đĩa đèn đầy dầu, thắp sáng. Cô múa dẻo như con rắn luồn qua những cành cây mà dầu trong đĩa ko sánh ra ngoài, đèn không tắt một ngọn nào. Nhiều bà con trong làng khâm phục tài múa đèn của cô đã gọi cô là cô Đèn. Nhưng, không ít người nhầm coi cô là "xướng ca vô loài". Những nhà giàu có không muốn dạm hỏi cô về làm dâu. Những nhà không bằng nhà bố mẹ cô thi lại sợ không "môn đăng hộ đối".

             Một buổi trưa hè. Gió lào phả gió ngóng lại mọi chốn mọi nơi trên đất làng Sài. Một nhóm con trai ra đầu làng ngồi mát, đan rổ rá. Cô Đèn đi chợ xa về. co mặc váy lụa, bốn dải lưng xanh, dây xà tích, áo dài vải Đồng Làmlấp cổ lót áo trắng, yếm thắm, vấn khăn nhung, toc thả đuôi gà. Cô đi đi từ ngaòi đường hàng huyện trở vào làng. Cô quẩy đôi thúng đậy hai cái mẹt đậy kín bưng, trên mẹt có một chồng bánh đa. Vừa đi tới chớm bóng râm đầu cổng làng, thấy đông người đang ngồi mát dưới gốc cây, cô đã cố ý đi nép vào rìa đường làng. Bất thần, một anh chàng giơ tay đụng vào vai cô và giọng nói chớt nhả. Cả đám trai làng cười ồ lên. Cô đèn mặt đỏ bừng, hai con mắt lá đào quắc sáng như hai ngọn đèn, măng: "Cái hạng các anh không đáng đụng đến cái gấu váy của tôi đâu". như lửa bị dội nước, mọi người mặt ngay cán tàn ngồi im như phỗng đá.

             Cô Đèn đã đi khuất sau bờ tre, đám trai làng mới hỏi nhau :

             - Con Đèn chựoi (chửi) người trêu nó hay chượu cả bọn chúng mình ngồi đây hề ?

            - Hắn gọi "cái hạng các anh", rứa là hắn nhủ cả đám chúng mình.

            Từ cái hôm ấy tất cả con trai chưa vợ ở làng Sài "ăn thề" với nhau: không ai được hỏi cô Đèn làm vợ. Nếu con trai ở làng khác đến làng Sài dạm hỏi cô Đèn thì đón đường đánh. Cuộc trả thù này đã hãm duyên cô Đèn cho tới  năm cô đã ba mươi tuổi mà vẫn chưa lấy được chồng. Có người gơịi ý với bố cô Đèn nên soạn một cơi trầu, một bầu rượu mời đám trai làng đến, xin lỗi để họ xá cho... Ông đã bàn với con gái điều ấy. Nhưng cô Đèn vã một mực không chịu nhún mình với đám trai làng. Khi ông ông Nguyễn Sinh Nhậm từ làng Sen đánh liều sang xin ăn hỏi cô Đèn, trai làng Sài họp lại bàn luận ... Họ xót xa cho cồĐen: Một người con gái tài hoa nhan sắc nhất làng mà phải chịu cái "án treo" quá lứa, lỡ duyên, nay phải đi làm vợ kế của một người làng khác! Chúng ta không nên ngăn cản nữa. Đọ gươm khi còn trên yên, đừng chém theo lúc người đã ngã ngựa !

             Trai làng Sài đã dựng một cổng chào ở đầu làng trên con đường đi sang làng Sen. Họ còn nhờ cỹ nhân Hồ Sỹ Tạo làm cho một bài văn chúc. Lúc đám rước dâu tới cổng chào, trai làng Sài bận quần trắng, áo dài, đội khăn đứng thành hai hàng. Một người có giọng bình văn hay bước ra đọc bài chúc. Họ nha f trai đáp lễ mười quan tiền đồng, một vò rượu tăm và mọt cái thủ lợn.

             Co Hy về làm bạn với ông Nguyễn Sinh Nhậm được ít lâu thì năm Quý Hợi (1863) sinh con trai. Ông Nhậm đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Sắc. Cuộc sống của gia đình rất êm ấm. Nhưng niềm hạnh phúc của mẹ con cô Đèn đã tắt phụt như ngọn đèn trước gió: Nguyễn Sinh Sắc mới lên ba thì ông Nguyễn Sinh Nhậm chết. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Nhậm gọi cả hai ngưồi con trai, người con dâu đến bên giường và căn dặ vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết: "Cha pahỉ hai lần xây dựng bạn trăm năm mà cũng chỉ có được hai mun con trai. cha những mong có đôi ba lần sinh nữa cho đông anh đông em, cũng như rừng nhiều cây, bão tố không xô ngã được. Không ngờ cha pahỉ sớm từ giả các con. Tội nhất là em sắc của các con còn quá bé bỏng. Mẹ kế các con thì tuổi trẻ chưa qua ! Cho nên vợ chồng con phải thay cha giúp mẹ kế của các con nuôi em Sắc nó nên người, mà điều hệ trọng là làm sao cho bé Sắc có năm ba chữ thánh hiền. Điều mong muón cuối cùng của cha là: dầu cha đã khuất, các con phải kính trọng người mẹ kế của các con như lúc cha đang tại đường. (ý nói như lúc còn sống).

             Sau ngày ông Nhậm qua đời, vợ chồng ông Nguyễn Sinh Thuyết ngỏ ý đón mẹ con bà Hy về ở chung. Nhưng bà Hy e ngại sẽ không tránh khỏi sự va chạm giữa bà với con dâu riêng của chồng. Với tấm thâm quả phụ ngoài ba mươi tuổi, Hà Thị Hy cặm cụi thờ chồng, nuôi con. Hằng nagỳ bà đem con theo ra đồng làm lụng, tối về, vòng tay mẹ ấp cổ con trong xó nhà hiu quạnh. Hà Thị Hy lòng đầy hy vọng một vài năm nữa, con trai mình biết nhớ được mặt chữ thì cho đi học. Nào ngờ, một buổi sáng, hàng râm bụt còn đẫm sương mai, bé Sắc chạy từ trong nhà ra ngõ , gọi thất thanh:

            - Anh ... ơi ... ! M... ệ c... m ch... ệt... mệ... em chết!... Anh... ơ...i!

            Vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết hốt hoảng chạy tắt vườn băng qua bờ rào sang nhà người mẹ kế. Nhưng cô Đèn - Hà Thị Hy đã tắt nghỉ trên giường góa bụa. Hàng xóm cũng đã ùa tới. Tiếng khóc thương tiếc của người thiếu phụ bạc mệnh dậy lên với những lời than thở: "Ôi! một người con gái đã một thời sáng lên như một ngọn đèn mà cũng ngắn ngủi như một ngọn đèn!".

             Tin cô Đèn chết bay sang làng Sài. Những người cùng lứa với cô Đèn cảm thấy đột ngột. Đám trai làng trước đây đã "cầm duyên" cô nghe tin này càng sửng sốt. Họ rủ nhau sang làng Sen tham gia việc chôn cất cô Đèn. Nghĩa tử là nghĩa tận, gia đình anh Thuyết vui lòng chấp thuận để trai làng Sài được đào huyệt và tự tay khiêng quan tài cô Đèn đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng. Những bạn hát trong "phường hát ả đào" làng Sài cũng mang theo đàn, phách vừa đi vừa hát. Những bài tiễn biệt cô Đèn. Trai làng Sài còn nhờ ông Hồ Sỹ Tạo làm "Văn ai" khóc cô đèn. Ông cử họ Hồ đã đứng trước mộ cô Đèn đọc bài "Văn ai". Mọi người xúc động theo giọng bi ai của ông cử họ Hồ thổn thức đọc điếu văn.

             Cha chết, mẹ lại chết. Nguyễn Sinh Sắc mới hơn bốn tuổi đầu về ở với người anh cùng cha khác mẹ, lòng trống trải, mắt ngơ ngác, xa lạ với tất cả. những đêm đầu tiên ở trong nhà anh, Sắc cư ngỡ là ở nơi bài hoang. Thỉnh thoảng Sắc khóc thét: "Mệ ... Mệ ... ơi!..." Người anh cứ phải nằm xuống ôm em giữ cho em ngủ. Nhưng, hễ rời vòng tay anh ra, Sắc lại giật mình khóc thét trong đêm khuya. Người chị dâu khó tính lại nạt nộ e, cằn nhằn chòng: "Nó không ngủ thì cho nó đi ra cồn để ma nó bắt".

             Sợ chị dâu mắng, bé Sắc nhắm nghiền mắt nằm im thin thít. Hình ảnh mẹ bay quầng trong ảo giác xanh đỏ tím vàng. Và Sắc thấy một vầng hào quang tỏa sáng. Mẹ của Sắc hóa thành bà tiên trong chuyện cổ tích mà mẹ đã kể cho SẮc nghe. Sắc bổng thấy lâng lâng như nhấc mình bay lên theo mẹ. Rồi mẹ của Sắc lại như một con cò trắng chở Sắc bay qua đồng xanh, qua sông xanh, qua ngàn xanh, qua biển xanh...

             Thuyết tưởng em đã ngủ yên, anh rón rén dậy. Anh đến thì thầm dặn vợ đừng mắng mỏ đứa em mồ côi bố mẹ đang tuỏi trứng nước. Bé Sắc đã choàng dậy, giác mơ tan biến, chỉ thấy một mình trống trải. Sắc bắt đầu rùng mình sợ hãi, bây giờ mới khóc to gọi: M...ẹ...ơ i i! Mệ... ơi...về... với con Mê.... ơi!

              Đêm tối như mực. Tiếng chó sủa rinh làng. Vợ chồng anh Thuyết, bà con trong họ, trong xónm đổ ra đường đuổi theo bé Sắc...

              Qua một trận ốm kéo dài, ai cũng tưởng bé Sắc không sống nổi. Nhờ được ông ngoại săn sóc thuốc thang, Sắc đã khỏe mạnh. Tiếc thay ông ngoại của Sắc, lại từ trần mà bà ngoại thì đã mất từ lâu, Sắc lại trở về làng sen sống với anh Thuyết...

              Làm theo lời cha dặn lúc hấp hối, Nguyễn Sinh Thuyết cho Sắc đi học chữ nho ngày một buổi; học về, đi chăn bò, cắt cỏ. Hôm đưa em đến thầy tú Vương xin học, anh Thuyết bâng cơi trầu, chai rượu đi trước, Sắc mặc áo năm thân nhuộm nâu non, quần dai quá gối đi theo anh. Chị Thuyết đứng trước cửa nhà bếp nói với ra sân :

              - Gớm. Nhà vua nỏ thừa bàng vàng để ghi danh ông nghè, ông cống cho cái nòi " xướng ca vô loài" mà học với hành, tốn nghiên tốn bút.

              Anh Thuyết quay phắt lại. Anh vớ cái cọc chống rèm. Chị Thuyết ba chân bốn cẳng chạy lủi qua phía hè bếp. Anh Thuyết quát với mấy tiếng mắng vợ. Rồi anh quay lại dỗ ngọt em :

              - Chị mi độc mồm vậy thôi chứ nỏ để bụng chi mô.

              Sắc đưa ống tay áo lau nước mắt đi theo anh đến nhà thầy học.

              Ngay những buổi ban đầu, thầy tú Vương đã nhận ra Sắc là một học trò sáng dạ. Thầy đã thử cgo Sắc về nhà học một tối phải thuộc lòng và đến viết trầm cho thầy xem năm mươi chữ ít nét, ba mươi chữ nhiều nét. Nguyến Sinh Sắc đã đem lại sự ngạc nhiên cho thầy. Và thầy tú Vương cầm bàn tay học trò Nguyễn Sinh Sắc xem từng đường vân dạng. Thầy tấm tắc : "Đúng. Rất đúng. Con nòi. Nòi cầm ca. Nòi nhả ngọc phun châu. Nòi cô Đèn. Tài hoa lắm. Con gắng học. Con sẽ làm nên nếu con có chí học. Mỗi chũ là một con mắt. Người không có chữ trong đầu là người mù giữa thế gian ".

              Lời thầy tú Vương như một ánh chớp mở vào thế giới tuổi thơ của Nguyến Sinh Sắc. Rồi Sắc thấy lởn vởn trong ý nghĩ của mình một câu hỏi : Chị Thuyết thường mắng mình là "con nhà xướng ca vô loài". Còn thầy tú Vương thì khen mình là : "Con nòi. Nòi cầm ca. Nòi nhả ngọc phun châu. Nòi cô Đèn..." Sắc tự tin : Điều thấy nói với học trò là lời mẹ nói với con. Và từ hôm Sắc được thầy khen, Quý và San kết thân với Sắc. Biết Sắc thiếu hơi ấm bố mẹ, San và Quý mỗi khi có quà bánh đều để phần đem đến lớp học cho Sắc. Có lần Sắc nói với bạn :

              - Các cậu cho mình nhiều thứ, mình nỏ có chi cả ! 

              Hiểu nỗi lòng của bạn , San, Quý an ủi Sắc :

              - Đừng nghĩ ngợi có hay không có cái chi đối đãi nhau, nhà tụi mình đầy đủ hơn nhà Sắc mà.

               Được thầy khích lệ, được bạn an ủi, Sắc  càng chăm chỉ việc nhà để đỡ bị chị dâu mắng mỏ vì quá ham học. Một lần Sắc ngồi đun cám lợn, chị dâu đang thái chuối ngoài sân. Sắc dùng que củi than tập viết lên nhà. Vì quá say sưa viết, Sắc quên khuấy, nồi cám bị khê nặc. Chị Thuyết từ ngoài sân chạy vào hắt cả rổ rau chuối vào người Sắc, mắng té tát : " Đồ mặt nạc đóm dày. Cháy nồi của tau rồi. Học với hành, Chữ với nghĩa chi cái thứ mi...!" Sắc biết mình có lỗi nên bạm môi chịu chửi, không khóc, không tỏ vẻ khó chịu với chị. Vả lại Sắc đã nhận ra tinh khí người chị dâu nóng, phàm miệng, nhưng miếng ăn thì nhường nhịn cho chồng, cho em.Hằng ngày chị Thuyết phải xới cơm chia: Anh Thuyết, trụ cột gia đình, được ăn mỗi bữa ba bát cơm độn, xới đầy. Sắc được hai bát vừa, chị Thuyết chỉ còn một bát đầy và vét cháy. Nhiều hôm anh Thuyết bưng bát cơm thứ ba vừa đi quanh sân vừa ăn, rồi lẻn ra sau nhà ngắt lá chuối gói nửa bát cơm còn lại giấu vào cái nón mê cuae Sắc thường đội đi chăn trâu. Biết gói cơm này là của anh đã dấu chị nhường cho mình, Sắc mang theo ra bãi chăn trâu mới ăn.

              Một buổi chiều sau Tết Nguyên Đán. Mưa xuân lâm thâm. Gió se se lạnh. Nguyễn Sinh Sắc đội nón mê, khoác tơi lá nằm tùm hum trên lưng trâu ở cánh đồng Dăm Quan. Con trâu mãi miết gặm cỏ. Sắc mê say học bài. Sợ bui mưa thấm vào trang sách, Sắc nghiêng nghiêng mái nón che phía gió thổi.

             Con trâu đang gặm cỏ bỗng nghênh đầu lên nhìn về phía có người lạ đi tới. Nhưng Sắc mãi dán vào trang sách không biết có người đang đứng bên con trâu để ý việc học bài của mình.

             Sắc giật mình hơi bối rối ngước nhìn: Một ông trông hiền từ, dáng vẻ một thầy đồ, tay che ô, đầu đội khăn nhiễu, khoác áo dài khép, chân đi guốc to bàn cuốn mỏ, quai mây hình đuôi én. Sắc nhảy từ lưng trâu xuống đất, đứng lễ pháp bên ông.

            - Cháu là cn nhà ai?

            - Thưa ông, cháu là con ông Nhậm ạ.

            - À ... ra ... cháu là con trai ông Nhậm, Con cô Đèn! Thảo nào, Cháu sớm có chị học. Cháu giữ bền được cái chí học ắt sẽ làm nên đó.

            Ông nhìn tập vở trang tay Sắc, hỏi:

            - Cháu đã học đến sách gì ?

            - Thưa ông, cháu đã học sách "Sơ học vấn tân" ạ.

            - Nghĩa của nó là gì ?

            - Dạ ... là cháu bắt đầu học hỏi ạ.

            - Nghĩa rộng là gì ?

            - Thưa ông, cháu nhớ lời thầy Vương giảng là: Hỏi về đường hướng của sự học ạ.

           - Sách này do người thầy Nam ta soạn hay người Tàu soạn, hở cháu?

           - Thưa ông, thầy Vương dạy rằng "Sơ học vấn tân" là do người nước ta soanjcho con cháu đời sau học ạ.

          - Cháu đọc trầm cho ông nghe vài câu, được không?

          - Cháu xin đọc: Kỳ tại quốc bản, cổ hiệu Việt Thường, Đường cải An Nam, Hán xưng Nam Việt, Thần nông tứ thế, thứ tử phân phong, Việt Kinh Dương vương hiệu hồng Bàng thị...

           - Tốt. Tốt lắm... Cháu thử giaiar nôm cho ông nghe coi.

           - Nước ta xưa gọi là Việt Thường. Nhà Đường chúng dổi là An Nam, sang nhà Hán chúng lại gọi là Nam Việt. Cháu bốn đời vua Thần Nông vốn là con thứ được phong làm vua xứ ta là Kinh Dương, hiệu Hồng Bàng.

            Ông liền hỏi tên, hỏi tuổi của Sắc. Ông nói với Sắc giọng cảm động:

           - Ông ước ao có một người con trai mà không được... Ngày mai cháu đến nhà thầy tú Vương học, cháu thưa lại với thầy là ông đồ Hoàng Xuân Đường đã gặp cháu và ông chuyển lời thăm sức khỏe đến thầy. Có thể một nagyf không xa, ông sẽ đến vịnh thơ uống rượu với thầy.

           Đầu hè năm đó, ông tú họa Hoàng từ làng Chùa sang làng Sen chơi nhà thầy tú Vương. Lâu ngày gặp nhau, hai ông đồ say chuyện, say thơ, say hương rượu từ lúc hoa râm bụt nở bừng cho đến lúc chúng cúi gục cần câu xuống bờ giậu. Gió nam hiu hiu thổi qua bờ tre, lướt vào cửa sổ nhẹ nhàng. Hai ông đồ đã thiêm thiếp giấc nồng. Học trò của thầy tú Vương đến, thấy thầy có khách đã lảng ra vườn bắt ve sầu, tìm tổ chim, săn chuồn chuồn ông voi...

            Phan Văn San, Vương Thúc Quý và Nguyễn Sinh Sawcsthif lúi húi dán diều giấy ở đầu nhà. Thỉnh thoảng Sắc chạy vào kéo quạt cho hai thầy đồ ngon giắc. Do có tiếng động mạnh từ ngoài cối xay lúa, hai thầy giật mình tỉnh giấc trò Sắc một tay cầm sách học ôn bài, một tay kéo quạt.

           Niềm xúc động dấy lên ánh mắt của hai thầy nhìn Nguyễn Sinh Sắc. Thầy tú Vương nói: "Hiếu tại tâm. Nhân bất hiếu bất thành nhân" (Hiếu ở lòng. Người không có hiếu chẳng là người).

           Thầy tú Vương giọng sảng khoái nói với Sắc:

           - Thầy cho phép con đưa thầy tú Hoàng Xuân Đường về gặp anh chị em của con. Nếu anh chị em của con vui lòng cho con được về nhập thân vào nhà thầy tú Hoàng Xuân Đường là phần phúc cho con lắm.

           Ông đồ Hoàng Xuân Đường ddesnse gặp vợ chồng anh Thuyết. Vừa nghe chưa trọn câu chuyện của ông đồ, chị Thuyết đã mau miệng:

           - Bẩm thầy, vợ chồng con mô dám chịu cái bụng tốt của thầy. Thầy đón bé Sắc về dưới đó ngay giờ cũng được ạ.

           Anh Thuyết lườm vợ:

           - Mệ hắn vội chi rứa? Để em nó ở lại vài hôm, còn coi ngày coi giờ nữa chứ !

           - Dè - chị Thuyết trề môi, - làm nhà, tậu ruộng đâu mà phải chọn ngày lành tháng tốt!

           Anh Thuyết nuốt giận lẫn nước mắt đắng cổ họng. Anh đưa cho em bọc áo quần, sách vở mà không giám nhìn thẳng vào mắt em, sợ bật lên tiếng khóc.

           Nắng chiều xiên khoai. Ông đồ nghiêng mái ô về phía mặt trời. Bóng chiếc ô đã che trùm hai mái đầu cao, thấp.

           Ra khỏi làng Sen, Sắc ngoái lại nhìn mái nhà mình thấp thoáng sau bóng tre, cố ghìm nước mắt. Sắc ôm choàng ngang người ông đồ, giọng hơi lạc, run run:

           - Ông ơi! Ông đón cháu về nuôi cho cháu ăn học à? Thật vậy ông?

           - Nói dối trẻ con là một trọng tội. Ông sẽ dạy cháu học. Cháu muốn học bao lâu ta cũng không ngăn cản.

           Bé Sắc quỳ hẳn xuống đất, chắp tay như sắp vái lạy:

           - Ôi sung sướng ! Sung sướng! Con không còn cha mệ! Ông ơi! Cho con được gọi là cha của con. Có thể Trười Phật đã phù hộc cho con chăng?

          - Con đứng lên đí, - Ông dùi Sắc dậy. - Ta đã nhận con vào lòng ta ngay từ hôm gặp con nằm trên lưng trâu mà học chữ thánh hiền. Ta không có con trai. Đã từ lâu ta hằng mong có người con nối chí. Nay ta chọn con. Ta hỏi thêm con điều này nữa: Con ước ao được học thêm nhiều chữ để làm gì ?

           - Thưa cha, người dốt nát thì khổ cực. Con muốn có nhiều chữ để đở bị người khác đè đầu và biết thuốc mà chữa bệnh; con có chữ con sẽ dạy chữ, dạy thuốc cho người chưa biết ạ.

           - Được. Con đã biết chọn việc học để làm người. Hợp với ý của cha. Cha yên tâm về con.

           Năm cậu bé Nguyễn Sinh Sắc về làm con trong gia đình ông bà đò, cô Hoàng Thị Loan mới lên năm tuổi. Tám năm sau, bà đồ sinh thêm con gái, đặt tên là An. Cô loan lê tuổi mười ba thì bước vào đời làm vợ Nguyễn Sinh Sắc, một anh nho mười tám tuổi. Đến năm mười sáu tuổi, cô loan sinh con gái đầu lòng: Nguyễn Thị Thanh, tự Bạch Liên. Bốn năm sau, loan lại đẻ con trai Nguyễn Sinh Khiêm, Tự Tất Đạt, Nguyễn Sinh Côn ra đời tiếp sau đó vài năm...

            Bé Thanh, Khiêm, Côn khi đã biết phần nào về dòng dõi nhà mình, thường hỏi mẹ:

          - Hồi còn bé, cha của chúng con sao mà khổ cực nhiều vậy mệ?

          Chị nho Sắc xoa đầu các con, giọng thủ thỉ: "Các con lớn lên đã..." Bé Thanh lại hỏi mẹ:

          - Mệ ơi! Ba chị em con, đứa mô giống bà nội nhiều hở mệ?

          - Mệ không biết được mặt bà nội. Các con đến hỏi bà ngoại. Bà ngoại của các con đã có lần được xem bà nội múa đèn, gảy đàn, hát nhà trò.

           Lúc ba chị em bé Thanh hỏi ríu ra ríu rít bên bà ngoại thì bà chỉ lên bộ tranh tố nữ: "Bà nội của tụi bây y hệt cái cô trong tranh kia. Chị em mi đứa mô cũng giống bà nội cả. Riêng thằng Côn là giống bà nội nhiều nhất..."

                                         (Hết phần 3)

                                             (Tiếp theo phần 4 ở đây)


    Nhắn tin cho tác giả
    Đinh Hữu Trường @ 15:16 05/06/2012
    Số lượt xem: 4690
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    10 khách và 2 thành viên
     
    Gửi ý kiến