Vui mừng chào đón

3 khách và 0 thành viên

Lịch vạn niên

Tài nguyên Website

Điểm báo Online

Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf Videoplayback_.flv 31VVQ.flv P1090425.jpg SAM_1032.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf Cac_thanh_vien_than_thiet.flv Cac_thanh_vien_than_quen.flv Hoahong31.jpg Chuc_xuan.swf Chao_20144swf.swf 111.jpg Chuc_2011.png DHTRUONG.swf QB_loan_cung_dan_mua_xuan.swf SN_Huu_Truong2.swf Chao_nam_hoc_moi.swf Bong_hong_cai_ao_1.swf

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • (Đinh Hữu Trường)

    Chào mừng quý vị đến với TƯ LIỆU & CUỘC SỐNG - Đinh Hữu Trường.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Góc Tây Nguyên > Hình ảnh TN >

    Làng bay trên... đắk Pô Kô

    Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum - ông Hà Ban - nói với tôi: "Mai này có xây dựng được những cây cầu nối hai bờ Pô Kô thì tỉnh cũng giữ lại những "đường bay", chỉ để vận chuyển hàng hóa và để làm... chứng tích... du lịch".

    Qua sông mỗi ngày
    Qua sông mỗi ngày

     

    Phóng viên Báo Lao Động là một trong số hiếm hoi những nhà báo đã tự mình "bay" qua sông Pô Kô để "thị sát" thật gần thân phận của những ngôi "làng người bay".

    Bay qua “làng không tên”

    A Tới - chàng trai người Giẻ Triêng - ngồi trên bao sắn khô chờ đến lượt “bay” qua sông trả lời với chất giọng nhát gừng, chút hồn nhiên pha lẫn khẩu khí “giang hồ”: “Mùa nước lũ (thuyền gãy, cáp treo ngập nước - PV), có khi cả tuần đ... có gạo ăn; cả làng phải nhổ sắn mì mà nấu”. Một mảnh khắc họa cay đắng về thân phận những ngôi làng ở bên kia đăk (sông) Pô Kô từ nhiều năm nay.

    Sông Pô Kô đoạn thượng nguồn qua các huyện Ngọc Hồi, Đăk Gley (Kon Tum) thường cặp kè với đường Hồ Chí Minh mà chảy, sâu và xiết. “Đường bay” của cư dân mấy làng Đăk Yắ 1, Đăk Yắ 2, làng... không tên (làng của những dân di tự do từ phía bắc, đều thuộc xã Đăk Ang, Ngọc Hồi) và hàng trăm dân làm gỗ, đào đãi vàng mỗi ngày qua lại nằm ở một khúc sông như vậy; chỉ cách thị trấn Ngọc Hồi chừng mươi cây số, cách tỉnh lỵ Kon Tum chừng 80km.

    Từ mặt đường Hồ Chí Minh bước xuống điểm xuất phát là hàng chục mét sâu; hai sợi cáp cách nhau chừng 30m - một sợi đi, một sợi về; từ sợi cáp mảnh như ngón tay thiếu nữ căng ngang xuống mặt sông lại sâu thêm 20 - 30m nữa, thăm thẳm và dài chừng 150m, qua sông.

    Sau vài phút chần chừ cùng một cái tặc lưỡi, tôi quyết định... “bay”; cùng với A Dân ở làng Đăk Yắ 2. Dân bảo: “Rớt xuống sông thì bơi (tôi không biết bơi); mắc kẹt giữa chừng thì dùng tay mà kéo”. Quả thực, so với “đường bay” này, cái cảm giác hồi hộp khi lần đầu lên những cáp treo Bà Nà, Yên Tử... chẳng “là cái đinh gì”.
     
    Cùng với tiếng rít dài của sợi cáp mỏng manh xát vào ròng rọc tạm máng, cái lao đi với tốc độ... “tên lửa” không một mảy may bảo hiểm khiến các giác quan bất chợt hầu như mất biến cho đến khi, cũng nhanh như thế, đôi chân bất ngờ chạm đất, đúng hơn là chạm vào một bên vách sông gần như dựng đứng. Không còn độ sâu hun hút với dòng sông đục ngầu cuộn chảy nhan nhản đá ngầm bên dưới. Bình an trở lại!

    Chưa ráo mồ hôi sau khi hì hụi cùng với chiếc... xe máy bay qua sông như một màn xiếc tận cùng mạo hiểm, Trần Văn Thuận - cư dân của “làng không tên” - vẫn cười vô tư: “Không “bay” qua “cầu” này thì biết đi cầu nào? Ngày ít thì hai lượt, nhiều thì 4 hoặc 6 lượt”, bay như chim. Không chỉ xe máy, nông sản, vật dụng thiết yếu... mà cả học sinh, sản phụ cũng phải... bay.

    “Hai thằng con ông Chín - cư dân “làng không tên” - đấy thôi, chừng 6 - 7 tuổi, hằng ngày đã tự ôm nhau như khỉ bay qua sông đi học” - Thuận nói thêm. Trong chiếc cặp của trẻ con vùng này, ngoài sách vở, vật “thiết thân” mang theo không phải bánh kẹo, sữa hay đồ chơi mà là... ròng rọc. Cái ròng rọc sau khi máng vội lên cáp để bay thì yên vị trong ngăn bàn học hay trong ba lô; để mất ròng rọc có khi... mất đường về nhà như chơi.

    Tại “bến bay” gần “làng không tên”, cả nhóm trẻ con đang chờ đến lượt vui vẻ nô đùa, đấy là Y Soi, A Giá, Y Du, Y Dung... tầm 13 - 15 tuổi, cùng là học sinh trường xã Đăk Ang, nghỉ hè về bên này cùng bố mẹ làm rẫy. Cư dân khác - chị Nguyễn Thị Loan, 43 tuổi - có đứa con út Trần Thị Sen đã 18 tháng tuổi, nhưng không được xã cấp giấy khai sinh, vì “giấy chứng sinh đã bị lũ cuốn trôi mất rồi”.

    Bé Sen sinh ra tại Bệnh viện Ngọc Hồi sau hành trình cùng mẹ là sản phụ Loan bay qua sông bằng con đường như thế. Cư dân “làng không tên” từ Nghệ An vào lập nghiệp “ngoài kế hoạch” đã nhiều năm nhưng không khai sinh, không hộ khẩu; đấy cũng là nguyên nhân khiến nhiều đứa trẻ không được đến trường; các cháu như Nguyễn Thị Hải, Trần Thị Ngân, chừng 15 - 16 tuổi, vừa hết lớp 9, sau ba - bốn lần xin vào lớp 10 trường huyện không được về khóc cả tuần rồi cũng đành bậm môi vác cuốc lên rẫy với bố mẹ, chuẩn bị cho một cuộc đời khác, tăm tối hơn.

    Thật tình cờ, giữa nắng trưa và lúc ở bên này “đường bay”, chị Y Nhét - người làng Đăk Yắ 1 - bế đứa con chừng 4 - 5 tuổi đứng chờ xe đò về huyện sau khi đã cùng con “bay” qua sông từ 7 giờ sáng. Hỏi mới hay, con chị bị bỏng khá nặng, đang tìm đường về bệnh viện huyện.

    Cám cảnh, bác sĩ Trần Thị Ngọc Phượng (nguyên GĐ Bệnh viện Từ Dũ; cùng đoàn chúng tôi được Chủ tịch UBND huyện Ngọc Hồi đưa đường để khảo sát xây cầu) đã dùng xe riêng đưa mẹ con Y Nhét đi bệnh viện sau khi “úy lạo” thêm 500.000 đồng. Trước đó không lâu, chính Y Nhét cũng bị rơi xuống sông Pô Kô khi “bay”, nằm viện mất hơn một tháng.
     
    Anh Thuận, rồi anh Phạm Văn Tá cùng bảo: “Rơi oành oạch, rơi... thoải mái; có thằng nằm viện mất vài tháng, vừa khỏi lại phải “bay”; không thì lấy gì mà sống”. Và “năm nào cũng chết vài người”. Nói xong lại phớ lớ cười; ít có ở đâu người ta lại rẻ rúng mạng mình đến thế. Anh Trần Khắc Chín - chồng chị Loan và là “làng trưởng” cái “làng không tên” chừng 20 hộ - bảo: Tính cả các làng Đăk Yắ 1 và 2, cùng dân vãng lai làm đủ các loại nghề thì mỗi ngày có đến hàng trăm lượt người “bay” qua sông Pô Kô bằng con đường như thế.

    Anh chính là người phát kiến ra “đường bay” ở khu vực này và người “làng không tên” góp tiền; mỗi “đường bay” cả đi và về mất 5 triệu đồng; phục vụ cho cả cộng đồng Kinh - Thượng. “Khó ló khôn mà thôi chứ sung sướng gì” - anh Chín thở dài.

    Bao giờ số phận... thôi bay?

    Tác giả cùng những đứa trẻ ở “làng không tên”.
    Tác giả cùng những đứa trẻ ở “làng không tên”

     

    “Sự kiện làng đu dây” hầu như được đổ lỗi cho trận bão số 9 (cuối năm 2009 mà Kon Tum là tỉnh bị thiệt hại nặng nhất). Kỳ thực không hoàn toàn như vậy. Theo cư dân vùng này, “đường bay” qua sông Pô Kô đã được người dân tự thiết lập từ 5 - 6 năm nay; ở những đoạn không có cầu mà nhu cầu dân sinh cấp bách. Bão số 9 quét sạch 9 cây cầu treo trên toàn hệ thống và chỉ tăng thêm phần khó khăn mà thôi.
     
    Tại khu vực “làng không tên” (tọa lạc trên tiểu khu 154 thuộc xã Đăk Ang) và các làng Đăk Yắ, chưa từng có cây cầu nào; cũng không có điện, dù đêm đêm vẫn vọng sáng thật gần từ huyện lỵ Ngọc Hồi; ôtô các loại vẫn vút qua như con thoi trên đường Hồ Chí Minh bên kia sông. Cùng với đôi cáp treo, mấy làng khu vực này vốn chỉ qua sông bằng một chiếc thuyền của người làng Đăk Yắ. Lũ lớn từ bão số 9 khoét rộng lòng sông và đập gãy tan chiếc thuyền duy nhất, tình thế càng thành nghiêm trọng.

    Theo Chủ tịch UBND huyện Nguyễn Thanh Hà, trên toàn tuyến sông Pô Kô thuộc huyện Ngọc Hồi có tới 6 vị trí đang được thiết kế xây cầu cho dân “vùng lõm” bên kia sông. Trừ hai cây cầu bêtông đã duyệt kế hoạch, một đang thi công, một đang chờ vốn, 4 vị trí còn lại đang đợi “nguồn vốn hảo tâm” để làm 4 cây cầu treo; khái toán mỗi cây cầu treo chừng 1,2 tỉ đồng.

    Trong 4 vị trí (ở các xã Đăk Ang, Đăk Nông và thị trấn Plei Kần) mà hiện người dân vẫn đang phải “bay” qua sông mỗi ngày (và còn nhiều tháng ngày tới) thì vùng ở “làng không tên” là khó khăn nghiêm trọng nhất, do dân sinh tập trung, các vùng khác chỉ chủ yếu qua lại mưu sinh chứ chưa định cư.
     
    Cũng theo ông Hà, kết quả khảo sát của huyện cho thấy các vị trí cáp treo đều không đảm bảo an toàn, song biện pháp khắc phục hiện chỉ là “vận động không đưa con em, học sinh qua lại bằng dây cáp treo; các hộ dân khi qua lại sông Pô Kô phải chú ý an toàn, không được chở vật nặng kèm theo người, khi qua lại phải có áo phao, giá đỡ...”. Thực tế đã diễn ra không theo “chỉ đạo”.

    “Bay” với mật độ và tốc độ kinh hoàng đến thế, nhưng “hai đầu dây chỉ được buộc vào cọc gỗ (hoặc gốc gỗ tự nhiên) chôn xuống đất để định vị dây cáp” và đã nhiều lần “đường bay” bị đứt, người và hàng bị nước cuốn trôi.

    Đọc đến đoạn văn “khảo sát kỹ thuật đường bay - PV” trong báo cáo của UBND huyện Ngọc Hồi và xác minh từ người dân, nhiều người trong đoàn chúng tôi bất chợt đổi ý, chỉ “khảo sát một bờ”, cho chắc. Rời xa đăk Pô Kô, sau lưng chúng tôi vẫn là một vùng lõm tối tăm, có lẽ là còn lâu lắm... Ánh mắt của những đứa trẻ bên kia sông và tiếng rít ghê người từ chiếc ròng rọc tạm máng trên dây đeo bám bên tai như ám ảnh từ những phận người...

     
    Nguyễn Thịnh (Báo  LD)

    Nhắn tin cho tác giả
    Đinh Hữu Trường @ 19:25 07/06/2010
    Số lượt xem: 644
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến