Chào mừng quý vị đến với TƯ LIỆU & CUỘC SỐNG - Đinh Hữu Trường.
Đảo nhỏ (Truyện ngắn)
Biển lặng. Những gợn sóng lăn tăn phản chiếu ánh mặt trời như vô vàn ngôi sao rắc đầy mặt nuớc. Xa xa, những con thuyền ra khơi hoặc trở về bến trông như nhưng ngôi nhà biết đi. Vài con hải âu chao cánh, có con còn đậu cả trên nóc tàu. Chuyến tàu cao tốc vừa cập bến. Tiếng chào hỏi, cười nói vọng đến tận ngôi nhà nhỏ nơi chị đang xem lại đồ đạc cho con đã đủ chưa và dõi mắt ra biển.
Hôm nay là ngày đứa con gái duy nhất của chị chính thức đi dạy ở Hòn Ngang. Chị lo cho nó bao nhiêu thì nó lại háo hức, vui mừng bấy nhiêu. Nhìn vẻ mặt chị, nó ôm cổ chị thủ thỉ:
- Mẹ đừng lo nhiều quá! Con sẽ tự lo được, con gái của mẹ mà.
Là một người mẹ chị không lo sao được? Đây là lần đầu tiên nó sống tự lập sau khi học xong Cao đẳng Sư phạm. Nơi nó đến dạy còn vô vàn khó khăn và cuộc sống thí đầy rẫy những phức tạp trong thời buổi cơ chế thị trường. Anh chị lại chỉ có mính nó. Giá nó chọn một trường tốt hơn ví nó tốt nghiệp xuất sắc, hay nó về trường chị; hoặc giả chị có thể sinh thêm vài đứa… Chị nén tiếng thở dài. Còn anh thì chậm rãi:
- Em phải tin con chứ!
Tiễn con đi rồi, nhớ vẻ mặt nó, chị như thấy lại hình ảnh của mình hơn hai mươi năm về trước...
Ngày ấy, học xong cấp 3, cô thôn nữ 19 tuổi đầy mộng mơ và khao khát được thoát khỏi nơi “ đất chật người đông” đăng kí tình nguyện vào Kiên Giang học Sư phạm. Dù bố mẹ có doạ dẫm, tìm mọi cách ngăn cản cũng không làm chị thay đổi quyết định. Chị luôn tâm đắc với lời thầy dạy: “ Đi cho biết đó biết đây, Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Chị làm sao lường hết những khó khăn sau này gặp phải.
Khoá học kết thúc, chị được phân công ra đảo Hòn Rùa – một hòn đảo nhỏ cách Rạch Giá khoảng 30 km; nhìn từ đất liền đảo như một con rùa khổng lồ màu xanh nổi trên mặt nước. Sau hơn hai tiếng đồng hồ trên tàu đánh cá của một người dân đảo,say mèm, chị nôn thốc nôn tháo. Trời nhá nhem tối thì tàu cập bến. Đi cùng chuyến tàu có anh, có lẽ anh đã quan sát chị từ lâu nên đã xácg dùm hành lí và dắt tay chị lên bờ. Mệt mỏi, lạ lẫm pha chút lo sợ, chị đưa mắt nhìn xung quanh. Những ngôi nhà sát biển thấp lụp xụp, hắt ra thứ ánh sáng vàng kệch từ những ngọn đèn dầu. Khoảng hơn chục chiếc tàu đánh cá đậu sát cầu cảng lắc lư theo nhịp sóng. Có người đem đèn pin đi đón người thân, ánh đèn loang loáng trên mặt cầu sắt đã bị thủng nhiều chỗ như tấm áo rách.
Qua vài lời thăm hỏi, chị mừng rỡ khi biết anh dạy ở trường chị sẽ tới dạy. Anh dẫn chị men theo lối mòn, đá lô nhô hai bên lối đi, đến lưng chừng dốc và đi một đoạn đến khu tập thể. Gọi là khu tập thể cho “oai”chứ thực ra nó là hai phòng được ngăn thành bốn bởi những tấm mê bồ nếu không dán báo có thể nhìn thông hết các phòng, mái lợp tôn ximăng. Mọi người ùa sang hỏi thăm, chị cảm nhận được tình cảm nồng thắm của những người xa xứ. Bữa cơm đầu tiên trên đảo có mực, cá, tôm – nghe nói có ghe của một phụ huynh mới đi khơi về cho – và một tô rau tập tàng chị ăn thật ngon miệng. Thức ăn tươi ngọt, tình người đậm đà cho tới giờ chị vẫn không quên dược cảm giác đó.
Sau đó chị được xếp vào một căn phòng trống vốn của một cô giáo ra dạy được hai tháng không chịu nổi phải bỏ về. Chị dọn qua căn phòng, dự định đi ngủ sớm để mai bắt đầu làm việc.
Đêm đầu tiên trên đảo. Đêm cuối tháng, không trăng nhưng sao như dát bạc trên nền trời đen sẫm. Gió biển lồng lộng, mát rượi. Ngọn đèn dầu vặn nhỏ lắt lay chỉ chực tắt. Tiếng sóng vỗ ì ầm vào bờ đá khiến gần hết đêm chị mới ngủ được. Dù thế, chị vẫn dậy sớm để tham quan ngôi trường mà từ nay chị sẽ gắn bó.
Không khí thật trong lành dễ chịu. Chị hít một hơi đầy căng lồng ngực. Tiếng sóng vẫn vỗ ì ầm vào bờ đá như một bản nhạc không có hồi kết. Ngôi trường thật đơn sơ, nhỏ bé nằm trên khu đất bằng phẳng, xung quanh bạt ngàn dừa. Thân dừa bạc trắng, mốc thếch, một người ôm không xuể. Những tàu dừa như chiếc lược khổng lồ chải vào không trung phát ra âm thanh xào xạc mỗi khi làn gió bay qua. Có lẽ vì nhiều dừa nên nơi đây có tên gọi Động Dừa.
Những ngày sau đó quả là thử thách với chị. Ban ngày, ngoài giờ lên lớp, thầy cô trong trường thường cùng nhau đi vận động học sinh tới trường. Có hôm đi xa, chân phồng rộp, cổ khát cháy, thầy Dũng lại leo hái dừa uống. Nước dừa ngọt lịm, tỉnh người, bao mệt nhọc tan biến, lại đi tiếp. Mỗi lần vận động được một em tới lớp là cả trường đều mừng và điều đó khiến cho mọi người có thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn đời thường và thuỷ chung với nghề “ trồng người”. Gạo thì mua ở kho, có hôm gạo dở, thật khó nuốt. Đồ ăn chủ yếu do phụ huynh cho mỗi khi ghe về. Những ngày biển động, nhiều khi cả tuần phải ăn nước mắm. Rau lại là món ăn sang trọng nhất. Nhưng cực nhất là vấn đề nước ngọt, đặc biệt vào mùa khô. Có hôm cả trường phải xuống biển tắm, sau đó lên chia nhau từng ca nước ngọt xối. Lúc đầu chị cũng ngại cách tắm đó, sau buộc phải quen. Là em út trong trường nên chị được mọi người quan tâm nhiều nhất. Có lúc thầy hiệu trưởng vui tính nửa đùa, nửa thật bảo:
- Ráng đi em, ráng rồi mai mốt anh tìm chồng cho.
Những khó khăn trong cuộc sống, những vất vả trong công việc cùng với thầy cô trong trường chị đều có thể vượt qua được, nhưng thử thách lớn nhất với chị là nỗi nhớ nhà. Ban ngày có công việc, có ánh mắt ngây thơ trong sáng của các em cuốn hút, có bạn bè đồng nghiệp ... thì tạm khuây khoả nhưng ban đêm về soạn bài xong lên giường là chị lại nhớ nhà da diết. Bên tai văng vẳng câu thơ: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn – với chị giờ thấm thía lạ. Mỗi lần nhận được thư nhà là chị lại khóc, lá thư nào chị cũng đọc đến thuộc lòng. Chị muốn được cùng mẹ, cùng em đi cấy, đi gặt, đi gieo ngô, trồng đay...; chị muốn được cùng mọi người đi bắt bướm sâu vào ban đêm mà cả cánh đồng rực rỡ như lễ hội hoa đăng.... Chị thèm được ăn rau muống non búng hái ở ao sau mỗi trận mưa rào, thèm được thưởng thức tô canh béo ngậy bắt được sau mỗi buổi gặt... Chị nhớ nhiều lắm. Chị thương mẹ. Một đời mẹ lo lắng tần tảo hi sinh vì chồng vì con tới giờ vẫn chưa biết sung sướng là gì. Mẹ lo cho chị nhiều nhất vì một mình chị nơi đất khách quê người nên lá thư nào cũng nhắc: Đừng tin người quá, nhất là con trai không lại “ khôn ba năm dại một giờ” mà khổ cả đời cả đời con ạ. Còn bố đau yếu luôn, dù có thương vợ thương con cũng chỉ giúp được việc nhẹ và những lời chỉ bảo về cách sống, cách đối nhân xử thế sao cho phải đạo làm người.
Đã có lúc chị nản chí. Suy nghĩ: hay bỏ tất cả để được trở về bên mẹ cha, bên anh chị em, soóng giữa làng quê yêu dấu thi thoảng xuất hiện trong đầu chị.May mà còn có người chia sẻ. Anh là người luôn sát cánh bên chị trong những lúc khó khăn nhất. Tình cảm của anh chị lớn dần cùng công việc bề bộn và sự phát triển đi lên của trường. Và kết quả là một đám cười giản dị do nhà trường đứng ra tổ chức sau hai năm chị ra đảo. Mẹ chị ở quê cũng nhẹ bớt phần nào nỗi lo lắng. Con gái chị ra đời một năm sau đó. Hạnh phúc được làm mẹ phần nào vơi bớt sự đau đớn suýt mất mạng khi sinh và vĩnh viễn không thể làm mẹ nữa của chị.Chị vui mừng chứng kiến từng ngày sự thay đổi, lớn lên của con và sự đổi thay gần như lột xác của hòn đảo nhỏ - nơi chị đã coi là quê hương thứ hai của mình.
Đường sá đi lại thuận tiện, một ngày có vài ba chuyến tàu từ đất liền ra đảo. Nhà cửa, trường học, bệnh viện, nhà làm việc của các cơ quan ban ngành đều được kiên cố hoá, tầng hoá... Cầu cảng được xây. Nó là nơi tiếp đón, chia tay của mọi người, là nơi cập bến của những con tàu sau chuyến chinh phục biển, là nơi hóng mát của nhiều người sau một ngày lao động vất vả... Ban đêm, nhìn từ xa, đảo như một toà lâu đài lộng lẫy trên biển....
Mới đó mà đã hơn hai mươi năm trôi qua. Biết bao đổi thay, cả chị cũng vậy. Vết nhăn đã hằn in phía đuôi mắt, làn da không còn trắng mịn như xưa, mái tóc dài óng ả nay bắt đầu điểm vài sợi bạc, duy chỉ có lòng yêu nghề, yêu đảo là không hề thay đổi. Nền kinh tế thị trường cũng đã len cả vào nơi chị dạy. Nhiều người lo làm kinh tế, có người lo dạy thêm, có người không bằng lòng với tiết dạy nhiều, ít... Chị là người dường như đứng ngoài vòng quay đó. Hạnh phúc lớn nhất của chị là được chăm sóc gia đình, chứng kiến sự trưởng thành của con, sự thành công của các thế hệ học trò. Nếu xã hội là một bản nhạc gồm vô vàn cung bậc khác nhau thì chị chỉ là một nốt trầm nho nhỏ trong bản hoà ca vĩ đại ấy. Phải chăng chị qúa lạc hậu? Cả con gái chị cũng vậy! Nếu không thì tại sao nó lại xung phong ra tận Hòn Ngang, lại từ chối mọi sự giúp đỡ trong khi nhiều người phải chạy chọt tận dụng mọi cơ hội có khi cả thủ đoạn để được làm ở chỗ thuận lợi, lương bổng khá hơn nhiều? Nó lại là đứa được mọi người cho là khá xinh, năng động, tháo vát... Liệu có lãng phí không khi con chị ra dạy ở đó?
Có lẽ nó muốn thử sức mình, cũng giống như chị ngày xưa vậy.
Bất giác chị nhẩm lại lời một bài hát mà chị đã thuộc lòng từ khi mới ra đảo: “ Kiên Hải quê tôi, xin mời ghé thăm một lần, ra về vẫn nhớ, gió reo sóng ca êm đềm...”. Biết đâu mai sau những hòn đảo nhỏ này lại trở thành những Tuần Châu, Phú Quốc... thứ hai. Điều đó có thể lắm chứ!
Nghĩ vậy chị yên tâm soạn bài cho giờ lên lớp buổi chiều. Nắng vàng như mật rải đầy không trung. Biển xanh ngắt một màu và biển vẫn tấu bản hoà ca có những nốt trầm ngàn đời của mình.
4.2006
Trần Thị Ngọc
Trường THCS Đinh Tiên Hoàng - Cuôr Dăng – Cư Mgar – Đăk Lắk
Đinh Hữu Trường @ 22:24 20/03/2010
Số lượt xem: 589
- LINH HỒN (Truyện ngắn) (19/03/10)
- "Cô gái bán hoa" - Truyện ngắn của Thái Bá Tân (20/02/10)
- Vấp (Truyện ngắn ) (02/10/09)
- BÔNG MAI KỶ NIỆM (Truyện ngắn - H. Chiến) (19/09/09)
- Đắc Nhân Tâm (23/08/09)
Các ý kiến mới nhất